|
CHẨN ĐOÁN
THAI DỊ DẠNG QUA SIÊU ÂM 3 - 4 CHIỀU
TẠI BỆNH
VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Ths Nguyễn Thị Cẩm Vân; Ths
Nguyễn Phước Bảo Quân
-----------------------------------------------------
I. Tóm tắt:
Gần 15 năm trở lại đây, đã có sự
phát triển nhanh chóng về chất lượng
của siêu âm chẩn đoán từ siêu âm 2D
đến siêu âm doppler màu, siêu âm
doppler năng lượng và hiện nay là
siêu âm 3 - 4 chiều. Siêu âm 3 - 4
chiều đã trở thành phương tiện chẩn
đoán hình ảnh có giá trị, đặc biệt
là trong lĩnh vực sản khoa, cho hình
ảnh rõ nét và khách quan nhằm phát
hiện sớm những khiếm khuyết của thai
nhi giúp các bác sĩ sản khoa có
hướng giải quyết kịp thời. Ở Việt
nam, siêu âm 3 - 4 chiều là lĩnh vực
tương đối mới trong vòng 2 năm trở
lại đây cho nên sự hiểu biết về siêu
âm 3 - 4 chiều vẫn còn nhiều hạn chế
và ít được quan tâm. Đề tài này nhằm
đánh giá tình hình thai dị dạng và
xác định các đặc điểm của siêu âm đa
chiều trong chẩn đoán thai dị dạng
tại Bệnh viện Trung Ương Huế.
Từ tháng 3 đến tháng 10/2006 chúng
tôi đã siêu âm 4D cho 192 trường hợp
nghi ngờ thai dị dạng qua siêu âm
2D, phát hiện 32 trường hợp thai dị
dạng. Thai dị dạng có thể gặp ở mọi
lứa tuổi sinh đẻ. 59,7 % trường hợp
được phát hiện dị dạng thai vào 3
tháng cuối của thai kỳ. Có 50% thai
dị dạng có kèm đa ối. Thai dị dạng
rất đa dạng.
Hình ảnh siêu âm 3- 4 chiều của thai
dị dạng rõ ràng mang tính chất khách
quan. Sự phát triển của siêu âm chẩn
đoán và nhất là sự ra đời của siêu
âm 3 - 4 chiều đã giúp cho chúng ta
rất nhiều trong chẩn đoán bệnh, đặc
biệt trong lãnh vực sản phụ khoa.
Đây là một trong những phương pháp
chẩn đoán dị dạng thai nhi khá tốt
và mang tính chất khách quan
II. Đặt vấn đề:
Trước đây, với siêu âm hai chiều đã
có nhiều hạn chế trong chẩn đoán
thai dị dạng. Chính vì vậy trên thế
giới, càng ngày người ta càng cố
gắng hoàn thiện hơn nữa các kỹ thuật
chẩn đoán, nhất là về mặt chẩn đoán
hình ảnh. Gần 15 năm trở lại đây,
đã có sự phát triển nhanh chóng về
chất lượng của siêu âm chẩn đoán từ
siêu âm 2D đến siêu âm doppler màu,
siêu âm doppler năng lượng và hiện
nay là siêu âm 3 - 4 chiều. Siêu âm
3 - 4 chiều đã trở thành phương tiện
chẩn đoán hình ảnh có giá trị, đặc
biệt là trong lĩnh vực sản khoa, cho
hình ảnh rõ nét và khách quan nhằm
phát hiện sớm những khiếm khuyết của
thai nhi giúp các bác sĩ sản khoa có
hướng giải quyết kịp thời. [1].
Ở Việt nam, siêu âm 3 - 4 chiều là
lĩnh vực tương đối mới trong vòng 2
năm trở lại đây cho nên sự hiểu biết
về siêu âm 3 - 4 chiều vẫn còn nhiều
hạn chế và ít được quan tâm.
Vì vậy chúng tôi nghiên
cứu đề tài "Chẩn đoán thai dị
dạng qua siêu âm 3 - 4 chiều tại
bệnh viện trung ương Huế"
nhằm mục tiêu:
- Đánh giá tình hình thai dị
dạng tại Bệnh viện trung
ương Huế.
- Đánh giá đặc điểm siêu âm
đa chiều trong chẩn đoán
thai dị dạng.
III. Phương pháp nghiên cứu:
1. Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Tất cả những bà mẹ mang
thai có yếu tố nguy cơ thai dị
dạng qua siêu âm 2D, bà mẹ bị
cảm cúm trong qua trình mang
thai, ...
2. Phương pháp nghiên cứu:
Chúng tôi sử dụng máy siêu âm
ACUSON ANTARES để khám
2.1. Đối với thai < 3
tháng: siêu âm 3 - 4 chiều
qua đường âm đạo.
2.2. Đối với thai >= 3
tháng: siêu âm 3- 4 chiều
qua đường bụng.
2.3. Phương pháp nghiên
cứu: phương pháp tiến cứu.
IV. Kết quả:
Từ tháng 3 đến tháng 10/2006 chúng
tôi đã siêu âm 4D cho 192 trường hợp
nghi ngờ thai dị dạng qua siêu âm
2D, phát hiện 32 trường hợp thai dị
dạng, rút ra được một số đặc điểm
sau:
1. Tuổi mẹ mang thai dị
dạng:
Bảng 1. Tuổi của mẹ mang thai dị
dạng:
|
Tuổi mẹ |
n |
% |
|
< 35 tuổi |
23 |
71,9 |
|
> 35 |
9 |
28,1 |
2. Tuổi thai nhi phát hiện
dị dạng:

3. Đặc điểm siêu âm 3-4
chiều thai dị dạng:
3.1.Vị trí dị dạng của
thai:
Bảng 2. Các vị trí dị dạng
của thai
|
Vị trí dị dạng |
n |
% |
|
Sọ não |
14 |
43,8 |
|
Mặt |
2 |
6,3 |
|
Cổ |
2 |
6,3 |
|
Hệ tuần hoàn |
2 |
6,3 |
|
Hệ tiêu hoá |
3 |
9,4 |
|
Hệ tiết niệu |
2 |
6,3 |
|
Thành bụng |
3 |
9,4 |
|
Tứ chi |
3 |
9,4 |
|
Cột sống |
1 |
3,1 |
3.2. Các
loại dị dạng:
Bảng 3. Các loại dị dạng thai
nhi
|
Các loại dị dạng |
n |
% |
|
Hydroencephalie |
4 |
12,5 |
|
Holoprosencephalie |
4 |
12,5 |
|
Anacephalie |
6 |
18,8 |
|
Sứt môi hở hàm ếch |
2 |
6,3 |
|
U bạch mạch |
2 |
6,3 |
|
Thông liên nhĩ |
2 |
6,3 |
|
Teo tá tràng bẩm
sinh |
1 |
3,1 |
|
Thận đôi |
1 |
3,1 |
|
Bệnh lý khúc nối |
1 |
3,1 |
|
Chân tay khoèo + Vẹo
cột sống |
1 |
3,1 |
|
Ngắn chi |
2 |
6,3 |
|
Phù toàn thân thai
nhi |
3 |
9,4 |
|
Cystic hygroma |
1 |
3,1 |
|
Tràn dịch màng phổi
|
1 |
3,1 |
|
Tràn dịch màng bụng |
1 |
3,1 |
3.2. Đặc điểm của ối trong
thai dị dạng:
Bảng 4. Tình trạng của nưới
ối trong các trường hợp dị dạng
thai
|
Tình trạng |
n |
% |
|
Thai dị dạng kèm đa ối |
16 |
50 |
|
Thai dị dạng không kèm
đa ối |
16 |
50 |
3.3. Một số hình ảnh minh
hoạ:
|
 |
 |
|
Hình 1: Thai
bình thường |
Hình 2: Thai
27 tuần sứt môi hở hàm ếch |
| |
|
|
 |
 |
|
Hình 3+ 4:
Thai 20 tuần dị tật vẹo cột
sống + Chân tay khoèo |
| |
|
|
 |
 |
|
Hình 5 + 6:
Thai vô sọ |
| |
|
|
 |
|
Hình 7: Thoát
vị rốn |
V. Bàn luận:
Thai dị dạng tại bệnh viện trung
ương Huế khá đa dạng và gặp ở mọi
lứa tuổi sinh đẻ. Sự dị dạng này
không những về hình thái mà còn phát
hiện được bất thường về cử động của
thai nhi. Trong nghiên cứu này chúng
tôi phát hiện được dị dạng thai sớm
nhất ở tuần thứ 20, đó là trường hợp
vẹo cột sống và chân tay khoèo nhưng
theo nghiên cứu của A. Kurjak và
cộng sự có thể phát hiện được một số
dị tật của thai ở vào 3 tháng đầu
của thai kỳ [2], chứng tỏ sự cần
thiết siêu âm 3D thai nhi từ rất
sớm ở 3 tháng đầu của thai kỳ, và
hiểu biết về siêu âm 3D thai nhi còn
khá mới mẻ đối với chúng ta.
Theo nghiên cứu của chúng tôi 59,7%
dị dạng thai nhi rơi vào 3 tháng
cuối của thai kỳ, điều này chứng tỏ
chúng ta phát hiện dị dạng thai nhi
khá muộn cũng có thể do các bà mẹ
đến siêu âm thai ở giai đoạn muộn.
Trong khi đó, theo nghiên cứu của
Bennett và cộng sự (2004), Bukowski
và cộng sự ( 2003), việc siêu âm
thai theo dõi thường qui trước 24
tuần rất quan trọng và có lợi trong
việc phát hiện sớm những dị dạng của
thai [4. Ở Mỹ 60 - 70% các bà mẹ
mang thai đều đăng ký theo dõi thai
kỳ qua siêu âm ngay từ khi mang
thai.
Thai dị dạng kèm đa ối có 16 trường
hợp chiếm tỷ lệ 50% trên tổng số
thai dị dạng điều này chứng tỏ thai
có thể dị dạng nhưng không kèm theo
đa ối.
Hình ảnh siêu âm 3 - 4 chiều của
thai dị dạng khá rõ ràng, một số
trường hợp dị dạng thai ngay cả
những người không có chuyên khoa
siêu âm cũng có thể nhìn thấy được,
đây là một yếu tố chẩn đoán mang
tính chất khách quan khác với siêu
âm hai chiều, mọi dị dạng của thai
nhi chỉ có Bác sĩ chuyên khoa siêu
âm mới nhìn thấy được và do vậy ít
nhiều mang tính chất chủ quan của
người đọc.
Trong 192 trường hợp nghi ngờ thai
di dạng qua siêu âm 2D, chỉ có 32
trường hợp thai dị dạng thật sự về
hình thái và cử động điều này cho ta
thấy vai trò của siêu âm 3D - 4D
trong chẩn đoán thai dị dạng. Theo
Dyson và cộng sự siêu âm 3D - 4D có
lợi hơn siêu âm 2D trong chẩn đoán
thai dị dạng về mặt, tay chân và cột
sống [5]
Hiện nay, ở các nước phương tây
người ta đã thành lập hội đồng để
quyết định chấm dứt thai kỳ trong
những trường hợp thai dị dạng không
thể sống được hoặc không thể điều
trị được sau khi sinh, cho nên việc
chẩn đoán thai dị dạng trong giai
đoạn thai kỳ rất quan trọng cần có
độ chính xác cao và chẩn đoán ở giai
đoạn sớm, để tránh những sai sót và
biến chứng đáng tiếc xảy ra.
VI. Kết luận:
Thai dị dạng là mối quan tâm của các
bà mẹ mang thai nói riêng và của
toàn xã hội nói chung. Việc phát
hiện sớm và chính xác dị dạng thai
là một vấn đề quan trọng giúp các
bác sĩ sản khoa có hướng giả quyết
kịp thời, giúp giảm bớt gánh nặng
cho gia đình và cho xã hội.
Với sự phát triển của siêu âm chẩn
đoán và nhất là sự ra đời của siêu
âm 3 - 4 chiều đã giúp cho chúng ta
rất nhiều trong chẩn đoán đặc biệt
trong lãnh vực sản phụ khoa. Đó là
một trong những phương pháp chẩn
đoán dị dạng thai nhi khá tuyệt hảo,
mang tính chất khách quan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A. Kurjak S Kupesic Zagreb -
Clinical application of 3D
sonography - April 2000.
2. A. Kurjak, M. Kos, B. Benoit and
S. Kupesic - The Assessment of
abnormal fetal anatomy - p. 133,
Clinical application of 3D
sonography.
3. Dyson RL, Pretorius DH, Budorick
NE, Johnson DD, Sklansky MS,
Cantrell CJ, et al. Threedimensional
ultrasound in the evaluation of
fetal anomalies. Ultrasound Obstet
Gynecol. 2000 Sep;16(4):321-8.
4. Bennett,et al. (2004),Bukowski
and associates (2003) - Studied 3588
women who had first- and
second-trimester ultrasounds as part
of the multicenter First and Second
Trimester Evaluation for Aneuploidy
Trial (FASTER) 2000.
5. Dyson RL, Pretorius DH, Budorick
NE, Johnson DD, Sklansky MS,
Cantrell CJ, et al. -
Threedimensional ultrasound in the
evaluation of fetal anomalies-
Ultrasound
Obstet Gynecol. 2000
Sep;16(4):321-8. |